Nutritionist's Note: How Anti-Nutritional Factors Affect the Gut

Ghi chép của chuyên gia dinh dưỡng: Các yếu tố kháng dinh dưỡng ảnh hưởng đến ruột thế nào

Nutritionist's Note: How Anti-Nutritional Factors Affect the Gut

Các yếu tố kháng dinh dưỡng thường hình thành từ thành phần hoặc chất chuyển hóa của chính thực vật và có thể cản trở tiêu hóa của thú cưng. Cây họ đậu là nguồn phổ biến.

Yếu tố kháng dinh dưỡng là gì?

Các chất ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa, hấp thu và sử dụng dưỡng chất trong thức ăn, hoặc gây phản ứng sinh lý bất lợi, được gọi chung là yếu tố kháng dinh dưỡng.

Chúng thường hình thành từ thành phần hoặc chất chuyển hóa của chính thực vật—các chất tự vệ phát triển qua tiến hóa giúp cân bằng dưỡng chất trong cây. Các yếu tố kháng dinh dưỡng nguồn thực vật đã biết gồm polysaccharide phi tinh bột (NSP), chất ức chế protease, axit phytic, lectin, axit erucic, gossypol, tannin, axit oxalic, glucosinolate, mycotoxin, mimosine, cyanogen, nitrate, alkaloid, chất gây nhạy cảm ánh sáng, glycinin và β-conglycinin, cùng nhiều chất khác.

Cũng có yếu tố kháng dinh dưỡng nguồn động vật—avidin, amin sinh học, gizzerosine—có thể phát sinh từ nguyên liệu sống hoặc cũ. Một số yếu tố có tác động đặc biệt lên thú cưng, như chất xơ, isoflavone đậu nành và saponin đậu nành; ăn quá mức cũng làm giảm hấp thu dưỡng chất và thậm chí gây độc.

Các yếu tố kháng dinh dưỡng thường gặp gây hại tiêu hóa chó mèo

1. Chất ức chế protease

Chúng gắn với trypsin trong dịch ruột non tạo phức không hoạt động, làm giảm hoạt tính trypsin và giảm khả năng tiêu hóa, sử dụng protein. Chúng cũng có thể gây mất protein nội sinh: trypsin gắn với chất ức chế bị thải qua phân, trypsin ruột giảm, tiết cholecystokinin và secretin tăng, và phản hồi ngược khiến tụy hoạt động quá mức, đẩy thêm trypsinogen vào ruột.

Tiết trypsin quá mức gây tăng sinh và phì đại tụy, làm rối tiêu hóa hấp thu và trường hợp nặng gây tiêu chảy. Vì trypsin đặc biệt giàu axit amin chứa sulfur, tiết bù quá mức rút cạn chúng khỏi cơ thể, làm mất cân bằng chuyển hóa axit amin và chậm tăng trưởng—thậm chí gây bệnh.

2. Lectin

Độc tính khác nhau giữa các loại đậu. Lectin không bị protease trong ruột thủy phân và có ái lực cao với phân tử đường; các vị trí đặc hiệu trên tiểu đơn vị của chúng nhận diện và gắn với polysaccharide ngoại bào trên hồng cầu, lympho hoặc tế bào thụ thể ở thành ruột, làm tổn thương niêm mạc bờ bàn chải và gây tổn thương nhung mao cùng phát triển bất thường.

Chúng cản trở tiết nhiều enzyme (enterokinase, phosphatase kiềm, maltase, amylase, sucrase, glutamyl- và peptidyl-transferase), gây kém hấp thu đường, axit amin và vitamin B12 cùng vận chuyển ion kém, ức chế nghiêm trọng tiêu hóa hấp thu, giảm sử dụng protein và chậm tăng trưởng.

3. Tannin

Tannin phản ứng qua nhóm hydroxyl với trypsin và amylase hoặc cơ chất của chúng (protein và carbohydrate), làm giảm sử dụng. Chúng cũng gắn với protein niêm mạc tiêu hóa, tạo phức không tan trên mặt niêm mạc làm tổn thương thành ruột, cản trở hấp thu khoáng và kìm hãm tăng trưởng. Tannin kết tủa với canxi, sắt và kẽm và tạo phức với vitamin B12, làm giảm khả dụng.

4. Saponin

Vị đắng của chúng ảnh hưởng khẩu vị và có thể gây bỏ ăn; chúng ức chế hoạt tính chymotrypsin và cholinesterase, tạo hợp chất không tan với kẽm, và có tác dụng tán huyết.

Quay lại blog